Luật bóng đá 5 người mới nhất của FIFA 2019

Luật bóng đá 5 người mới nhất 2019 của FIFA được áp dụng trong tất cả các cuộc thi đấu bóng đá dành cho 5 người trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, các cuộc thi đấu bóng đá dành cho 5 người có thể đề ra những điều lệ phù hợp với điều kiện của cuộc thi, nhưng không trái với các điều luật này.

Bài tổng hợp dưới đây của Kienthucbongda.com sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về các luật cơ bản thi đấu bóng đá mini 5 người hiện hành của FIFA.

 

Luật I: Luật sân bóng đá 5 người

 
Luật sân bóng đá 5 người dành cho thi đấu qua mô phỏng dưới đây:
 
Luật bóng đá 5 người mới nhất của FIFA 2019
Đặc điểm của sân bóng đá 5 người dành cho thi đấu
 
 
Luật bóng đá 5 người mới nhất của FIFA 2019 1
Kích thước sân bóng đá 5 người dành cho thi đấu theo tiểu chuẩn FIFA
 

1. Kích thước sân bóng đá 5 người:

 
Sân bóng đá 5 người trong luật thi đấu phải là hình chữ nhật
  • Chiều dọc tối đa là 42m và tối thiểu phải là 25m. 
  • Chiều ngang của sân tối đa 25m và tối thiểu là 15m.
Trong mọi trường hợp thì chiều dọc của sân luôn phải lớn hơn chiều ngang của sân thi đấu bóng cỏ nhân tạo 5 người.
 

Đối với các trận đấu quốc tế:

 
Sân thi đấu quốc tế:
  • Chiều dài: Tối thiểu: 38m Tối đa: 42m
  • Chiều rộng: Tối thiểu: 18m Tối đa 25m

2. Các đường giới hạn sân thi đấu: 

Chu vi của sân thi đấu được xác định bởi các đường giới hạn:
  • Hai đường giới hạn dài hơn gọi là đường biên dọc.
  • Hai đường giới hạn ngắn hơn gọi là đường biên ngang.
  • Tất cả các đường kẻ sân có chiều rộng 8cm.
  • Đường kẻ thẳng suốt theo chiều ngang và chia sân thành 2 phần bằng nhau gọi là đường giới hạn nửa sân.
  • Ở chính giữa đường giới hạn này có một điểm là tâm của sân (điểm giao bóng). Lấy điểm đó làm tâm kẻ đường tròn bán kính 3m, đó là vòng tròn giữa sân.

3. Khu phạt đền: 

  • Từ biên ngang của mỗi phần sân, lấy chân 2 cột dọc cầu môn làm tâm kẻ vào trong sân 1/ 4 đường tròn có bán kính 6m, nối điểm cuối của 2 cung 1/ 4 đường tròn được một đoạn thẳng dài 3.16m song song và cách đều đường biên ngang 6m.
  • Khu vực được giới hạn bởi những đường kẻ này gọi là khu phạt đền.
  • Đường thẳng giới hạn này còn gọi là đường 6m.
 

4. Chấm phạt đền thứ nhất: 

  • Chấm phạt đền thứ nhất là điểm rõ ràng trên đường thẳng vuông góc với biên ngang, cách biên ngang 6m. Điểm này nằm trên đường 6m và ở giữa đoạn thẳng 3,16m.

5. Chấm phạt đền thứ hai: 

  • Chấm phạt đền thứ 2 là điểm rõ ràng trên sân, nằm chính giữa trên đường thẳng vuông góc với biên ngang, cách biên ngang 10m.

6. Khu đá phạt góc: 

  • Khu phạt góc là 1/4 đường tròn có bán kính 25cm được kẻ phía trong sân, có tâm là mỗi góc sân.
  • Có thể kẻ phía ngoài sân một đoạn thẳng vuông góc với đường biên ngang cách điểm góc sân 5m để xác định vị trí đứng của cầu thủ đội phòng thủ khi đối phương thực hiện quả phạt góc

7. Khu vực thay thế cầu thủ: 

Khu vực thay thế cầu thủ là nơi để cầu thủ ra và vào sân khi thay thế :
  • Khu vực này nằm trên đường biên dọc, phía đặt ghế ngồi của cầu thủ, quan chức đội bóng và có chiều dài 5m, được xác định rõ ràng bởi hai đoạn thẳng vuông góc với đường biên dọc có độ rộng 8cm và độ dài 80cm (40cm ở phía trong và 40cm ở phía ngoài sân).
  • Khu vực ngay trước bàn trọng tài, cách đường giới hạn nửa sân 5m về mỗi bên phải được để trống.
Lưu ý: Trong giờ nghỉ giữa 2 hiệp của mỗi đội, khu vực thay người của mỗi đội sẽ hoán đổi để việc thay đổi người của đội bóng của mình được thuận lợi.
 

8. Khung thành

  • Khung thành phải được đặt ở giữa mỗi đường biên ngang, gồm hai cột dọc vuông góc với mặt sân, cách đều mỗi góc sân, được nối với nhau bằng một thanh xà ngang song song với mặt sân thi đấu.
  • Khoảng cách giữa hai cột dọc là 3m (tính từ mép trong) và khoảng cách từ thanh xà ngang tới mặt sân thi đấu là 2m (tính từ mép dưới).
  • Cả xà ngang và cột dọc của khung thành đều có cùng kích thước bề rộng và bề dầy là 8cm.
  • Khung thành phải được mắc vào cột dọc, xà ngang, gắn xuống mặt sân phía sau cầu môn một cách chắc chắn.
  • Phần dưới lưới phải được đỡ bằng 2 thanh xà cong hoặc hình dạng khác có sức đỡ phù hợp.
  • Khung thành có chiều sâu là 80cm ở phía trên và 100cm ở dưới mặt đất tính từ mép trong của cột dọc về phía bên ngoài sân thi đấu.
     
Lưới chắn bóng có khung đỡ đằng sau

Khung thành bóng đá 5 người
 

Sự an toàn:

  • Khung thành phải là hệ thống cố định để tránh trường hợp bị đổ. Khung thành di động có thể sử dụng được, nhưng nó phải có sự ổn định như khung thành cố định.
  • Khung thành dành cho thủ môn có thể tháo rời được, nhưng trước mỗi trận đấu phải lắp đặt thật chặt chẽ, thật sự an toàn và gắn cố định xuống mặt sân. Lưới cho khung cầu môn phải có khung đỡ thích hợp phía sau cầu môn và được mắc chắc chắn vào xà ngang, cột dọc và mặt sân.
Lưu ý: Lưới dành cho khung thành phải làm bằng sợi vải, sợi đay hoặc dây nilon. Tuy nhiên những sợi nilon không được nhỏ hơn sợi vải, sợi đay
 

9. Bề mặt sân thi đấu: 

  • Bề mặt sân thi đấu phải mềm, phẳng và được làm bằng chất không bị mài mòn.
  • Sử dụng sân lát gỗ hoặc phủ chất liệu nhân tạo phù hợp.
  • Tránh sân làm bằng chất liệu xi măng hay đá dăm trộn nhựa đường.

Quyết định của Hội đồng Luật quốc tế:

  • Nếu đường biên ngang chỉ dài 15 hay 16m thì bán kính của cung 1/4 vòng tròn phải là 4m. Trong trường hợp này, điểm chấm phạt đền thứ nhất sẽ vẫn là điểm cách điểm chính giữa của hai cột dọc là 6m.
  • Phải đánh dấu một điểm bên ngoài sân thi đấu, cách cung phạt góc 5m và ở góc phải của đường biên ngang để đảm bảo cự ly khi thực hiện quả đá phạt góc. Độ rộng của điểm này là 8cm.
  • Trên sân thi đấu, phải vẽ thêm hai điểm cách chấm phạt đền thứ hai về phía bên trái và bên phải 5m để xác định cự ly khi cầu thủ thực hiện quả đá phạt tại chấm phạt đền thứ hai. Độ rộng của điểm này là 6cm.
  • Khu ghế ngồi của đội bóng phải được đặt ngoài đường biên dọc, ngay bên cạnh khu vực trống trước bàn trọng tài.
 

Luật II: Bóng tiêu chuẩn dành cho thi đấu

 

1. Chất lượng và kích thước:

  • Bóng phải hình cầu.
  • Chất liệu vỏ ngoài của bóng phải bằng da hoặc chất liệu khác tương ứng.
  • Chu vi quả bóng tối thiểu là 62cm và tối đa là 64cm.
  • Trọng lượng quả bóng lúc đầu trận đấu không được nặng hơn 440g và nhẹ hơn 400g.
  • Áp suất của bóng: Từ 0,4 – 0,6 át-mốt-phe (400 – 600gr/cm2).

2. Thay thế khi bóng hỏng:

 
Nếu bóng thi đấu bị hỏng trong khi trận đấu vẫn đang tiếp diễn thì:
  • Tạm dừng trận đấu.
  • Trận đấu sẽ được bắt đầu lại bằng quả thả bóng tại nơi bóng bị hỏng.
  • Nếu bóng thi đấu bị hỏng khi ngoài cuộc (bắt đầu trận đấu, đá phạt, phạt góc, phạt trực tiếp, đá penalty hoặc đá biên) thì:
  • Trận đấu sẽ được bắt đầu lại theo các tình huống thích hợp với Luật thi đấu bóng đá Futsal.
  • Chỉ có trọng tài chính mới có quyền thay thế bóng trong trận đấu.

3. Những quyết định của Hội đồng Luật quốc tế:

  • Không được sử dụng loại bóng làm bằng nỉ trong các trận đấu quốc tế .
  • Trong lần thả đầu tiên ở độ cao 2m, độ nảy của bóng tối đa là 65cm và tối thiểu là 50cm.
  • Trong các trận đấu, chỉ có những quả bóng đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu như trong Luật II mới được sử dụng.
  • Trong những trận đấu do FIFA hoặc các Liên đoàn bóng đá khu vực tổ chức, chỉ có những quả bóng đã qua kiểm nghiệm và có một trong ba chứng chỉ sau đây:
    • “FIFA APPROVED”.
    • “FIFA INSPECTED”.
    • “INTERNATIONAL MATCHBALL STANDARD”.
  • Chứng chỉ trên quả bóng chỉ ra rằng quả bóng đó đã được kiểm tra chính thức và phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật cụ thể, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tối thiểu theo luật II. FIFA sẽ ban hành danh sách các yêu cầu cụ thể thêm đối với mỗi tiêu chí kiểm tra đó và sẽ lựa chọn các viện thí nghiệm có chức năng kiểm định chất lượng bóng thi đấu.
  • Các giải đấu do Liên đoàn bóng đá quốc gia tổ chức cũng cần phải sử dụng bóng thi đấu có một trong ba chứng chỉ trên.
  • Trong tất cả các trận đấu khác, bóng thi đấu phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật của luật II.
  • Trong các trận đấu do FIFA, các Liên đoàn bóng đá khu vực hay các LĐBĐ quốc gia tổ chức, không được có bất kỳ loại hình quảng cáo nào xuất hiện trên bóng thi đấu, ngoại trừ logo của giải đấu, đơn vị tổ chức giải đấu và logo của nhà sản xuất bóng. Điều lệ giải đấu có thể giới hạn kích cỡ và số lượng của các logo này.

Luật III. Số lượng cầu thủ được tham gia thi đấu


1. Cầu thủ: 

  • Mỗi trận đấu phải có hai đội, mỗi đội có tối đa là 5 cầu thủ, trong đó có một thủ môn.

2. Trình tự thay thế cầu thủ:

  • Trong bất kỳ trận đấu nào của một giải chính thức do FIFA, Liên đoàn bóng đá Châu lục hay Liên đoàn bóng đá quốc gia điều hành, cầu thủ dự bị đều được sử dụng để thay thế.
  • Số lượng cầu thủ dự bị tối đa là 7. Số lần thay đổi cầu thủ dự bị (kể cả thay thế thủ môn dự bị) trong một trận đấu không hạn chế.
  • Cầu thủ đã thay ra sân vẫn được quyền vào lại sân thi đấu thay thế cầu thủ khác. Việc thay cầu thủ dự bị có thể được tiến hành khi bóng trong cuộc hoặc ngoài cuộc, nhưng phải được thực hiện đúng các quy định sau đây:
    • Cầu thủ bị thay thế phải rời sân qua khu vực thay cầu thủ của đội mình
    • Cầu thủ được thay thế cũng phải vào từ khu vực thay cầu thủ của đội mình và phải đợi cầu thủ bị thay thế đã hoàn toàn ra khỏi sân thi đấu.
    • Một cầu thủ dự bị được tham gia thi đấu hay không là quyền thuộc về quyết định của trọng tài.
    • Việc thay người kết thúc khi cầu thủ bị thay đã rời sân và cầu thủ được thay thế đã vào sân. Lúc này cầu thủ dự bị trở thành chính thức và cầu thủ bị thay thế không còn là cầu thủ chính thức nữa.
  • Cầu thủ nào cũng có thể thay thế vị trí của thủ môn.

Lưu ý: Cầu thủ nào cũng có thể thay vị trí của thủ môn nhưng phải báo trước cho một trong hai trọng tài biết và việc thay người phải tiến hành vào lúc trận đấu tạm dừng và phải thay trang phục như quy định trong Điều 5 Luật IV (trang phục cầu thủ).
 

3. Lỗi và cách xử phạt:

 
Trong khi thay người, nếu một cầu thủ dự bị vào sân khi cầu thủ bị thay thế chưa rời khỏi sân hoàn toàn thì:
  • Dừng trận đấu.
  • Buộc cầu thủ bị thay thế nhanh chóng rời sân.
  • Cảnh cáo và phạt thẻ vàng cầu thủ vào sân và buộc cầu thủ đó rời khỏi sân để hoàn tất thủ tục thay người.
  • Trận đấu được bắt đầu lại bằng quả phạt gián tiếp cho đội đối phương tại nơi bóng dừng.
Trong khi thay người, nếu một cầu thủ dự bị vào sân hoặc cầu thủ bị thay thế rời khỏi sân không đúng khu vực thay cầu thủ của đội mình thì:
  • Dừng trận đấu.
  • Cảnh cáo, phạt thẻ vàng cầu thủ vi phạm và buộc cầu thủ đó rời khỏi sân để tiến hành đúng thủ tục thay người.
  • Trận đấu được tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp cho đội đối phương tại chỗ bóng dừng.

4. Những quyết định của Hội đồng Luật quốc tế:

  • Để bắt đầu trận đấu, mỗi đội phải có 5 cầu thủ.
  • Trong trường hợp nhiều cầu thủ bị truất quyền thi đấu, nếu một trong hai đội không còn đủ 3 cầu thủ trên sân (kể cả thủ môn), trận đấu sẽ bị huỷ bỏ.
  • Một quan chức đội bóng có thể được chỉ dẫn chiến thuật cho các cầu thủ trong suốt trận đấu. Tuy nhiên, các quan chức không được cản trở cầu thủ, trọng tài trong khi họ thi đấu và làm nhiệm vụ trên sân, và phải luôn có hành vi, cư xử đúng mực.

Luật IV. Trang phục cầu thủ

 

1. Sự an toàn:

  • Cầu thủ không được mang bất kỳ vật gì gây nguy hiểm cho bản thân mình và cho các cầu thủ khác, kể cả các loại đồ trang sức. 

2. Trang phục cơ bản: 

Trang phục cơ bản của một cầu thủ bao gồm những vật sau (từng chiếc rời nhau):
  • Bọc ống quyển:
    • Bọc ống quyển phải được bít tất phủ kín
    • Làm bằng chất liệu thích hợp (cao su, nhựa tổng hợp hoặc chất liệu tương tự).
    • Có khả năng bảo vệ tốt.
  • Áo thi đấu:
    • Phải có ống tay
  • Quần đùi:
    • Nếu mặc quần giữ ấm phía trong quần đùi phải cùng mầu với mầu quần đùi thi đấu.
  • Bít tất dài
  • Giầy:
    • Chỉ sử dụng loại giầy bằng vải, da mềm hay giầy thể thao đế cao su mềm hoặc chất liệu tương tự mới được sử dụng. Việc mang giầy là bắt buộc.

3. Trang phục của Thủ môn:

  • Thủ môn được quyền mặc quần dài
  • Thủ môn phải mặc trang phục thi đấu có màu dễ phân biệt với các cầu thủ khác và trọng tài.
  • Trong trường hợp muốn thay thế thủ môn bằng một cầu thủ dự bị, cầu thủ đó cần mặc áo thủ môn đúng số áo mà cầu thủ đó đã đăng ký lúc đầu.

4. Lỗi và cách xử phạt: 

  • Bất kỳ cầu thủ nào vi phạm điều luật này sẽ được trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh lại trang phục hoặc bổ sung trang phục bị mất. Khi trang phục đã chỉnh tề, cầu thủ muốn trở lại sân phải thông báo cho một trong các trọng tài đang làm nhiệm vụ, và trọng tài này sẽ kiểm tra lại trang phục cầu thủ trước khi cho phép cầu thủ này trở lại sân thi đấu.

5. Bắt đầu lại trận đấu: 

  • Nếu trọng tài cho dừng trận đấu để phạt cầu thủ vi phạm luật thì trận đấu được bắt đầu lại bằng một quả phạt gián tiếp cho đội đối phương tại chỗ bóng dừng.

6. Những quyết định của Hội đồng Luật quốc tế:

  • Các cầu thủ không được để lộ áo lót trong có biểu ngữ hoặc quảng cáo. Ban tổ chức giải phạt sẽ bất cứ cầu thủ nào kéo áo để lội biểu ngữ hoặc quảng cáo ở áo lót trong.

Luật V: Trọng tài chính trong các trận thi đấu bóng đá


Trong mỗi trận đấu đều có một trọng tài chính điều khiển. Quyền hạn, nhiệm vụ của trọng tài chính do hội đồng luật thi đấu bóng đá quy định và có hiệu lực ngay khi trọng tài bước vào sân và kết thúc khi trọng tài rời khỏi sân.
 
Trọng tài chính trong trận đấu bóng đá có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm kể cả trong những lúc trận đầu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định được đưa ra của trọng tài trong trận đấu, kể cả kêt quả trận đấu là những quyết định cuối cùng.
 

1. Quyền hạn và nhiệm vụ của trọng tài chính trong thi đấu:

  • Đảm bảo việc áp dụng Luật Bóng đá.
  • Không thổi phạt những lỗi có thể tạo lợi thế cho đội phạm lỗi.
  • Ghi nhận mọi sự cố diễn biến trước, trong và sau trận đấu.
  • Đảm nhiệm việc theo dõi thời gian thi đấu trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ ba.
  • Có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về Luật bóng đá. Tạm dừng hoặc dừng hẳn trận đấu xét thấy cần thiết vì những sự cố can thiệp của khán giả hay những lý do khác. Trong những trường hợp như thế trọng tài phải gửi  báo cáo chi tiết kịp thời cho ban tổ  chức có thẩm quyền đúng theo quy định của Liên đoàn bóng đá Quốc gia mà trận đấu được tổ chức.
  • Ngay khi bước vào sân, trọng tài có quyền cảnh cáo đối với bất cứ cầu thủ nào có hành vi khiếm nhã, vi phạm Luật và nếu tái phạm sẽ truất quyền thi đấu cầu thủ đó. Trong những trường hợp như thế, trọng tài phải gửi danh sách cầu thủ phạm lỗi kịp thời về cho ban tổ chức có thẩm quyền đúng theo quy định của Liên đoàn bóng đá Quốc gia.
  • Trừ cầu thủ và trọng tài thứ 2, không cho phép bất kỳ người nào vào sân khi không được sự cho phép của trọng tài chính.
  • Dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương trầm trọng, cho đưa ngay cầu thủ đó ra khỏi sân và lập tức cho trận đấu tiếp tục. Nếu có cầu thủ bị chấn thương nhẹ thì trọng tài đợi bóng ngoài cuộc mới dừng trận đấu. Cầu thủ đó nếu có khả năng đi tới đường biên ngang  hoặc biên dọc để chăm sóc thì phải được chăm sóc ngoài sân.
  • Truất quyền thi đấu bất kỳ cầu thủ nào – theo nhận định của trọng tài - phạm lỗi thô bạo, có hành vi bạo lực hoặc dùng lời lẽ thoá mạ, thô tục.
  • Ra hiệu cho trận đấu tiếp tục lại sau mỗi lần dừng trận đấu.
  • Quyết định bóng thi đấu đúng theo quy định của Luật II.
 
Trong những trường hợp trọng tài chính và trọng tài thứ hai phát hiện lỗi của các cầu thủ cùng một lúc nhưng không thống nhất được đội nào hưởng quả phạt thì quyền quyết định hình phạt sẽ được trọng tài chính đưa ra quyết định.
Trọng tài chính và trọng tài thứ 2 đều có quyền cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu cầu thủ nhưng trong trường hợp không thống nhất được với nhau, thì việc quyết định phạt lỗi đó vẫn là trọng tài chính.
 

Luật VI: Trọng tài thứ phụ (trọng tài thứ 2)

 
Mỗi trận đấu có một trọng tài thứ 2 hoạt động ở phía đối diện với trọng tài chính. Trọng tài phụ cũng có quyền hạn như trọng tài chính trừ những việc không thống nhất được trong (phần 4) của luật IV . Trọng tài phụ còn có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về luật thi đấu bóng đá như Luật V
 

1. Quyền hạn và nhiệm vụ của trọng tài thứ 2

  • Ở trận đấu không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3, trọng tài thứ 2 chịu trách nhiệm theo dõi thời gian 2 phút phạt dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu.
  • Theo dõi việc thay đổi cầu thủ có đúng quy định của Luật này hay không.
  • Theo dõi thời gian hội ý: 1 phút.
  • Trong những trận đấu quốc tế nhất thiết phải có trọng tài thứ 2.
Lưu ý: Trong những trường hợp có sự can thiệp thiếu trách nhiệm của trọng tài thứ 2 thì trọng tài chính có quyền thay trọng tài thứ 2 đồng thời báo cáo sự việc về ban tổ chức có thẩm quyền.
 

Luật VII: Người phụ trách bấm giờ và trọng tài thứ 3

 
Trong các trận đấu quốc tế đều phải có tới 3 trọng tài hoạt động cùng lúc với người phụ trách bấm giờ còn gọi là thư ký bấm giờ.  
 

1. Nhiệm vụ của người thư ký bấm giờ đảm bảo thời gian thi đấu theo đúng các điều khoản của Luật VIII

  • Bấm để đồng hồ chạy khi bắt đầu quả giao bóng, quả đá biên, quả phát bóng, quả phạt góc, quả phạt trực tiếp, những quả đá phạt ở điểm phạt đền 2 quả “thả bóng chạm đất” hoặc sau lần hội ý.
  • Bấm dừng đồng hồ khi bóng ngoài cuộc.
  • Theo dõi thời gian hội ý 1 phút và thời gian 2 phút dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu.’
  • Dùng ký hiệu hoặc tiếng còi (khác hẳn với tiếng còi của 2 trọng tài) báo hiệu khi kết thúc hiệp 1, hiệp 2, các hiệp phụ (nếu có) và báo hết thời gian hội ý.
  • Theo dõi các lần hội ý của mỗi đội, giúp hai trọng tài và hai đội thực hiện các lần hội ý, ra hiệu cho phép hội ý mỗi khi huấn luyện viên yêu cầu.
  • Theo dõi việc trọng tài xử phạt 5 lỗi “tổng hợp” đầu của mỗi đội trong từng hiệp và kịp thời báo hiệu cho trọng tài khi có đội bóng đã vi phạm đủ 5 lỗi “tổng hợp”.
  • Theo dõi những lần dừng trận đấu với lý do cụ thể, ghi vào biên bản những cầu thủ ghi bàn, bị cảnh cáo, bị truất quyền thi đấu, những lần hội ý hoặc bất kỳ thông tin gì khác có liên quan đến trận đấu.
LƯU Ý
 
  • Trong trường hợp có sự can thiệp thiếu trách nhiệm của thư ký bấm giờ hoặc trọng tài thứ 3, trọng tài chính có quyền bác bỏ và thay thư ký bấm giờ hoặc trọng tài thứ 3 khác, đồng thời báo cáo sự việc lên Ban tổ chức có thẩm quyền.
  • Thư ký bấm giờ sử dụng đồng hồ và những thiết bị cần thiết nhằm thông báo lỗi “tổng hợp” do Liên đoàn bóng đá hoặc Ban tổ chức thi đấu trang bị.
  • Những quyết định của hội đồng luật thi đấu bóng đá dành cho sân bóng 5 người (Phần 6)
 
Trong các trận đấu quốc tế có thư ký bấm giờ là việc rất quan trọng phải có. Trong các trận thi đấu bóng đá cỏ nhân tạo quốc tế, việc đồng hồ bấm giờ phải có đủ các chức năng cần thiết:
 
  • Theo dõi được thời gian trận đấu
  • Thời gian 2 phút phạt đối với 4 cầu thủ bị truất quyền thi đấu cùng một lúc.

2. Nhiệm vụ của trọng tài thứ 3 trong trận thi đấu bóng đá.

  • Theo dõi hoạt động của thư ký bấm giờ.
  • Theo dõi và ghi chép 5 lỗi “tổng hợp” đầu của từng đội bóng trong mỗi hiệp và báo hiệu ngay cho trọng tài sau thời điểm đội bóng nào đã bị phạt đủ 5 lỗi “tổng hợp”.
  • Ghi chép những lần tạm dừng và nguyên nhân tạm dừng trận đấu, những cầu thủ ghi bàn thắng, cầu thủ bị phạt thẻ vàng, thẻ đỏ và cung cấp bất kỳ những thông tin nào có liên quan đến trận đấu.
Lưu ý: Trường hợp có trọng tài bị chấn thương không tiếp tục làm nhiệm vụ được nữa, trọng tài thứ 3 có thể sẽ là người thay thế với nhiệm vụ trọng tài chính hoặc trọng tài thứ 2.
 

Luật VIII: Thời gian thi đấu mỗi trận

  • Một trận đấu gồm 2 hiệp, mỗi hiệp 20 phút.
  • Việc theo dõi từng trận đấu do thư ký bấm giờ chịu trách nhiệm như quy định ở Luật VII. Người phụ trách bấm giờ và trọng tài thứ 3
  • Ngay trước khi kết thúc mỗi hiệp đấu, một đội bóng được hưởng quả phạt đền hiệp đấu đó phải được kéo dài đủ để thực hiện xong quả phạt đó.
  • Thời gian nghỉ giữa 2 hiệp không quá 15 phút.
  • Trong mỗi hiệp đấu, các đội được quyền hội ý một lần với thời gian 1 phút nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
  • Huấn luyện viên của đội mới được quyền yêu cầu thời gian 1 phút hội ý qua thư ký bấm giờ trong bất cứ thời điểm nào của hiệp đấu.
  • Thư ký bấm giờ chỉ cho phép đội bóng hội ý khi đội bóng khống chế bóng.
  • Khi hội ý, các cầu thủ phải tập trung ở trong sân và không ai bên ngoài được vào sân. Nếu muốn nhắc nhở điều gì với đội, huấn luyện viên phải thực hiện ở đường biên dọc nơi hàng ghế cầu thủ dự bị.
  • Nếu trong hiệp 1, đội nào không yêu cầu hội ý, thì sang hiệp 2 cũng chỉ được quyền hội ý 1 lần.
  • Những quyết định của hội đồng luật thi đấu bóng đá dành cho sân bóng 5 người (Phần 7)
  • Trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3, trọng tài chính phải đảm nhiệm thêm việc theo dõi thời gian trận đấu.
  • Trong trường hợp đó, huấn luyện viên yêu cầu hội ý phải qua trọng tài thứ 2.
  • Nếu điều lệ giải có quy định đấu thêm 2 hiệp phụ sau khi kết thúc 2 hiệp chính vẫn hoà, thì trong các hiệp phụ không có lần hội ý.

Luật IX: Bắt đầu và bắt đầu lại trận đấu


1. Bắt đầu trận đấu

  • Trước khi trận đấu bắt đầu, việc chọn sân hoặc đá quả giao bóng phải được xác định bằng cách tung đồng tiền.
  • Đội được quyền ưu tiên sẽ chọn sân hoặc đá quả giao bóng trước.
  • Sau khi trọng tài chính thổi còi để trận đấu bắt đầu, cầu thủ đội được giao bóng đá quả bóng ở điểm trung tâm sân về phía sân đối phương.
  • Các cầu thủ phải đứng trên nửa phần sân của đội mình, các cầu thủ đội không được giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 3m.
  • Bóng vào cuộc sau khi được đá và di chuyển.
  • Cầu thủ đá quả giao bóng không được chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác.
  • Sau mỗi bàn thắng, trận đấu được tiếp tục bằng quả giao bóng theo quy định nói trên. Đội vừa bị thua được quyền giao bóng.
  • Bắt đầu hiệp 2: hai đội đổi sân và đội không được giao bóng ở hiệp 1 được quyền giao bóng ở hiệp 2.

Cách xử phạt trong trận đấu:

  • Khi giao bóng không thực hiện đúng những quy định 1, 2 và 3 sẽ phải giao bóng lại.
  • Trường hợp cầu thủ giao bóng lại đá bóng lần nữa trước khi bóng chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác, thì đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại điểm phạm lỗi. Nếu điểm phạm lỗi nằm trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp được thực hiện trên vạch 6m, gần nơi phạm lỗi nhất.
  • Bóng đá từ quả giao bóng trực tiếp vào cầu môn bàn thắng được công nhận.

2. Bắt đầu lại trận đấu

  • Sau lúc tạm dừng trận đấu vì bất kỳ lý do gì không ghi trong Luật và lúc đó bóng chưa vượt khỏi các đường giới hạn, thì trận đấu được tiếp tục bằng quả “thả bóng chạm đất” do một trong hai trọng tài thực hiện tại điểm bóng dừng. Nếu lúc đó, bóng dừng ở khu phạt đền, thì quả “thả bóng chạm đât” sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần vị trí bóng dừng nhất.
  • Bóng được tính là trong cuộc sau khi chạm mặt sân. Tuy nhiên bóng được thả xuống nếu vượt ra ngoài biên dọc hoặc biên ngang trước khi cầu thủ chạm bóng, trọng tài cho thực hiện lại. Không cầu thủ nào được đá bóng khi bóng chưa chạm mặt sân. Nếu vi phạm trọng tài sẽ thực hiện lại quả “thả bóng chạm đất”.

Luật X: Bóng trong cuộc và bóng ngoài cuộc


Bóng ngoài cuộc là:
  • Khi bóng đã vượt hẳn khỏi biên dọc hoặc biên ngang dù ở trên sân hay trong không gian.
  • Sau tiếng còi dừng của trọng tài.
Ngoài hai trường hợp trên, bóng được kể là trong cuộc từ lúc bắt đầu trận đấu  cho đến khi kết thúc trận đấu, kể cả các trường hợp sau.
  • Bóng bật từ cột dọc, xà ngang của khung cầu môn vào trong sân.
  • Bóng bật vào sân từ trọng tài chính hoặc trọng tài thứ 2 đứng trong sân.
  • Khi trọng tài chưa thổi còi ngưng trận đấu sau một hành vi được coi là phạm Luật.
Những quyết định của Hội đồng Luật Quốc tế:
 
  • Bề rộng của vạch giới hạn được tính nằm trong diện tích của khu vực đó. Do đó bề rộng của các biên dọc, biên ngang thuộc vào diện tích của sân.
  • Khi trận đấu diễn ra trong sân có mái che, nếu bóng chạm trần, trận đấu tạm dừng và sẽ được tiếp tục như sau:

LUẬT XI: BÀN THẮNG HỢP LỆ

 
Bàn thắng được công nhận khi quả bóng đã hoàn toàn vượt khỏi biên ngang giữa hai cột và dưới xà ngang của cầu môn, trừ:
  • Những trường hợp đặc biệt do Luật quy định.
  • Quả bóng do cầu thủ dùng tay hoặc cánh tay để ném, ôm hoặc đấm vào cầu môn.
 
Đội ghi điểm bàn thắng hơn là đội thắng. Nếu 2 đội không ghi được bàn thắng hoặc có số bàn thắng bằng nhau thì trận đấu được coi là hoà.
 

LUẬT XII: LỖI VÀ HÀNH VI THIẾU ĐẠO ĐỨC

 

1. Trực tiếp

 
Cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài tuy không cố tình nhưng đã dùng sức mạnh quá mức cần thiết hoặc do bất cẩn:
  1. Đá hoặc tìm cách đá đối phương;
  2. Ngáng hoặc tìm cách ngáng chân đối phương.
  3. Nhẩy vào người đối phương;
  4. Chèn đối phương bằng vai;
  5. Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương;
  6. Xô đẩy đối phương;
Và cầu thủ vi phạm một trong 4 lỗi sau đây:
 
  1. Lôi kéo đối phương;
  2. Nhổ nước bọt vào đối phương;
  3. Tìm cách xoạc bóng khi bóng trong hoặc ngoài tầm khống chế của đối phương, trừ thủ môn trong khu phạt đền của đội mình nhưng động tác không được dùng sức mạnh quá cần thiết hoặc bất cẩn thô bạo.
  4. Cố tình dùng tay chơi bóng như: ôm bóng, đấm bóng, ném bóng bằng tay hoặc cánh tay (không áp dụng quy định này cho thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình).
Sẽ bị phạt quả phạt trực tiếp do đội đối phương thực hiện tại nơi phạm lỗi.
 
Nếu cầu thủ cố tình vi phạm 1 trong 10 lỗi trên trong khu phạt đền của đội mình, sẽ bị phạt quả phạt đền 6m bất kể bóng ở vị trí nào và trong cuộc. Chỉ những lỗi phạt trực tiếp mới được tính là lỗi “tổng hợp”.
 

2. Gián tiếp

Thủ môn phạm một trong những lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:
  • Nếu sau khi phát bóng, lại nhận bóng trở lại từ cầu thủ đồng đội chuyển về mà bóng chưa vượt qua vạch giữa sân hoặc chưa chạm hoặc đá bởi cầu thủ đối phương.
  • Nếu dùng tay chạm hoặc bắt bóng từ quả chuyển về của đồng đội.
  • Nếu dùng tay chạm hoặc bắt bóng từ quả đá biên về của đồng đội.
  • Nếu khống chế bóng bằng tay hoặc bằng chân ở bất cứ điểm nào thuộc phần sau đội mình lâu quá 4 giây.
Hoặc theo nhận định của trọng tài, cầu thủ vi phạm một trong những lỗi sau đây, sẽ bị phạt quả gián tiếp.
  • Có lối chơi nguy hiểm
  • Không tranh cướp bóng mà chỉ cố tình ngăn cản đối phương như chạy giữa đối phương và bóng hoặc dùng thân người cản đường di chuyển của đối phương.
  • Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
  • Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác không được đề cập trong luật XII, mà trận đấu phải dừng lại để cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu của cầu thủ.
Quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi. Nếu vị trí phạm lỗi xảy ra trong khu phạt đền, quả phạt gián tiếp được thực hiện tại điểm trên đường 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
 
Cầu thủ bị cảnh cáo (thẻ vàng) nếu:
  • Có hành vi khiếm nhã (phi thể thao).
  • Dùng lời lẽ hoặc hành động phản đối quyết định của trọng tài.
  • Vi phạm luật nhiều lần.
  • Trì hoãn đưa bóng vào cuộc.
  • Không đứng đúng cự ly xa điểm phạt trong những quả phạt góc, đá biên, đá phạt, ném bóng vào cuộc.
  • Ra vào sân không có phép của trọng tài hoặc vi phạm quy định thay thế cầu thủ dự bị.
  • Tự ý rời sân không có phép của trọng tài.
Nếu phạm một trong những lỗi trên, cầu thủ bị cảnh cáo và bị phạt quả gián tiếp tại nơi phạm lỗi, trừ trường hợp vi phạm luật trầm trọng hơn. Nếu phạm lỗi trong khu phạt đền của đội mình, quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
 
Cầu thủ sẽ bị truất quyền thi đấu (thẻ đỏ) nếu theo nhận định của trọng tài cầu thủ:
  • Có hành vi thô bạo.
  • Có lối chơi bạo lực.
  • Nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất kỳ ai.
  • Ngăn cản cơ hội ghi bàn rõ rệt bằng tay (không áp dụng với thủ môn trong khu phạt đền của đội mình).
  • Vi phạm lỗi thô bạo ngăn cản cơ hội ghi bàn rõ rệt.
  • Dùng lời lẽ thô tục hoặc xúc phạm.
  • Bị cảnh cáo lần thứ 2 trong một trận đấu.
Nếu trọng tài dừng trận đấu để truất quyền thi đấu cầu thủ phạm một trong 2 lỗi (6) hay (7), và không vi phạm lỗi nào khác theo quy định của luật, thì trận đấu tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp do đối phương thực hiện tại chỗ phạm lỗi. Tuy nhiên nếu phạm lỗi trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần nơi phạm lỗi nhất.
 
Những quyết định của hội đồng luật bóng đá 5 người FIFA
 
  • Theo nhận định của trọng tài, nếu một cầu thủ đang di chuyển về hướng cầu môn đối phương với cơ hội ghi bàn rõ ràng mà bị đối phương cố tình truy cản trái phép (có nghĩa là hành vi phạm lỗi phải phạt quả trực tiếp) thì sẽ bị truất quyền thi đấu vì lối chơi thô bạo đó.
  • Theo nhận định của trọng tài, nếu một cầu thủ không phải là thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình dùng tay ngăn cản bàn thắng hoặc một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương sẽ bị truất quyền thi đấu vì lối chơi thô bạo đó.
  • Cầu thủ bị truất quyền thi đấu không được vào lại sân và cũng không được ngồi ở dãy ghế dành cho cầu thủ dự bị. Đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu sẽ phải thi đấu thiếu người trong 2 phút. Thời gian 2 phút phạt có thể rút ngắn khi trận đấu có bàn thắng. Điều này được quy định như sau:
    • Trường hợp đội có 5 cầu thủ thi đấu với đội 4 cầu thủ thì khi đội có số đông cầu thủ hơn ghi bàn thắng, đội chỉ có 4 cầu thủ sẽ được bổ sung đủ số lượng.
    • Trường hợp cả hai đội đều thi đấu với 4 cầu thủ, khi có bàn thắng, cả hai đội đều giữ nguyên số lượng cầu thủ.
    • Trường hợp đội 5 hoặc 4 cầu thủ thi đấu với đội 3 cầu thủ, khi đội có số lượng cầu thủ đông hơn ghi bàn thắng, đội 3 cầu thủ chỉ được bổ sung một cầu thủ mà thôi.
    • Trường hợp cả hai đội đều thi đấu với 3 cầu thủ khi có bàn thắng, cả hai đội đều giữ nguyên số lượng cầu thủ.
    • Trường hợp đội có số cầu thủ ít hơn ghi bàn thắng thì không được bổ sung đủ số lượng.
  • Việc theo dõi 2 phút phạt dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu là nhiệm vụ của thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3 (nếu có). Trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3 thì trách nhiệm đó thuộc về trọng tài thứ 2. Cầu thủ vào sân để thay thế cầu thủ bị truất quyền thi đấu phải được sự đồng ý của trọng tài chính và chờ khi bóng ngoài cuộc.

LUẬT XIII: NHỮNG QUẢ PHẠT

  • Những quả phạt được phân làm 2 loại: “Trực tiếp” (bàn thắng được công nhận nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương) và “Gián tiếp” (bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, bóng đã chạm hoặc được đá bởi một cầu thủ khác).
  • Khi một cầu thủ thực hiện quả phạt, các cầu thủ đối phương phải đứng cách bóng tối thiểu là 5m cho đến khi bóng đá rời chân và di chuyển. Trường hợp cầu thủ đối phương xông vào hoặc đứng không đủ cự ly 5m trước khi quả bóng được đá đi, trọng tài phải cho thực hiện lại (nếu bóng đã được đá đi) hoặc dừng việc thực hiện quả phạt cho tới khi mọi người thực hiện đúng quy định của Luật.
  • Bóng phải để “chết” khi thực hiện quả phạt và cầu thủ vừa đá phạt không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác.
 
Cách xử phạt:
 
  • Nếu cầu thủ vừa thực hiện quả phạt, ngay sau khi bóng vào cuộc, lại đá tiếp lần thứ 2 trước khi bóng được chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác, sẽ bị phạt quả gián tiếp do đối phương thực hiện nơi vi phạm lỗi. Trường hợp lỗi vi phạm xảy ra trong khu phạt đền thì quả phạt sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.
  • Nếu đội được hưởng quả phạt thực hiện lâu quá 4 giây thì trọng tài sẽ cho đối phương được đá quả phạt gián tiếp đó.
  • Ký hiệu của trọng tài trong các quả phạt.
    • Phạt trực tiếp: Sau khi thổi phạt quả trực tiếp, trọng tài một tay chỉ hướng phạt còn tay kia chỉ xuống đất ra hiệu lỗi thứ mấy với trọng tài thứ 3 hoặc thư ký bấm giờ để thông báo số lỗi được tính vào lỗi tổng hợp.
    • Khi trọng tài phạt quả gián tiếp phải có ký hiệu một tay giơ cao khỏi đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước và giữ nguyên như thế cho đến khi bóng được đá đi đã chạm hoặc được đá bởi một cầu thủ khác hay ra ngoài cuộc.
  • Từ quả phạt trực tiếp, bóng phải vào cầu môn đội đối phương bàn thắng mới được công nhận.

LUẬT XIV: LỖI “TỔNG HỢP”

  • Chỉ những lỗi phạt trực tiếp được ghi trong luật XII mới được tính vào số lỗi “tổng hợp”.
    • Những quả phạt lỗi “tổng hợp” trực tiếp vào cầu môn được công nhận bàn thắng.
  • Năm lỗi “tổng hợp” đầu của mỗi đội trong mỗi hiệp phải được ghi vào biên bản khi kết thúc trận đấu.
  • Trong 5 lỗi “tổng hợp” đầu của mỗi đội ở mỗi hiệp khi thực hiện quả phạt, đối phương được quyền làm “hàng rào” nhưng phải đứng cách xa bóng tối thiểu 5m.
  • Nhưng bắt đầu từ lỗi “tổng hợp” thứ 6 trở đi, đối phương không được quyền làm “hàng rào” khi thực hiện quả phạt.
    • aCầu thủ đá phạt phải được báo với trọng tài.
    • Trừ thủ môn đối phương và cầu thủ thực hiện quả phạt, các cầu thủ khác phải ở trong sân nhưng phía sau vạch “tưởng tượng” ngang hàng với bóng, song song với biên ngang và ngoài khi phạt đền.
    • Thủ môn phải ở lại trong khu phạt đền, và cách xa bóng tối thiểu 5m.
    • Các cầu thủ đội đối phương phải đứng cách xa bóng 5m và không được cản trở cầu thủ thực hiện quả phạt. Không một cầu thủ nào được vượt qua vạch “tưởng tượng” trước khi quả bóng được đá đi rời chân và di chuyển.

1. Quy định tiến hành quả phạt lỗi “tổng hợp”

  • Cầu thủ thực hiện quả phạt phải đá bóng với ý đồ ghi bàn chứ không được phép chuyển bóng cho cầu thủ khác.
  • Khi quả phạt đang thực hiện, không một cầu thủ nào được chạm bóng cho tới khi bóng đụng thủ môn hoặc bật ra từ cột dọc, xà ngang hay ra ngoài các đường giới hạn của sân.
  • Những quả phạt này không được thực hiện ở cự ly cách đường biên ngang dưới 6m, điểm đặt bóng đá phạt phải dời lên vị trí tương ứng với điểm phạm lỗi và cách đường biên ngang 6m. Khi có lỗi phạt gián tiếp trong khu phạt đền, điểm đặt bóng đá phạt phải ở trên đường 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
  • Khi cầu thủ phạm lỗi “tổng hợp” thứ 6 trên phần sân đối phương hoặc trên phần sân của đội mình được giới hạn bởi đường giữa sân với đường “tưởng tượng” ngang qua chấm phạt đền thứ 2 và song song với đường biên ngang, đội đối phương sẽ được thực hiện quả phạt ngay tại chấm phạt đền thứ 2 của đội phạm lỗi. Chấm phạt đền thứ 2 nói rõ trong Luật I mục 5. Quả phạt phải được thực hiện theo những điều khoản quy định trong mục A.
  • Khi cầu thủ phạm lỗi “tổng hợp” thứ 6 trên phần sân đội nhà được giới hạn giữa đường song song với biên ngang đi qua chấm phạt đền thứ 2 và đường biên ngang cuối sân. Đội tấn công được quyền tự chọn một trong 2 vị trí đá phạt là điểm phạm lỗi hay điểm phạt đền thứ 2.
  • Nếu trận đấu phải đá thêm 2  hiệp phụ, thì những lỗi tổng hợp của hiệp 2 vẫn còn giá trị để tính lỗi tổng hợp trong 2 hiệp phụ.

2. Cách xử phạt

Bất kỳ vi phạm nào với quy định của Luật rơi vào:
 
Đội bị phạt:
  • Quả phạt được thực hiện lại nếu không ghi được bàn thắng. Ngược lại nếu ghi được bàn thắng thì bàn thắng được công nhận.
Đội được phạt
  • Quả phạt được thực hiện lại nếu ghi được bàn thắng. Nếu không ghi được bàn thắng thì không thực hiện lại quả phạt.
Cầu thủ thực hiện quả phạt
  • Sau khi bóng vào cuộc lại chạm bóng lần thứ 2, đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Nếu phạm lỗi trong khu phạt đền, quả phạt gián tiếp được thực hiện trên đường 6m ở vị trí gần nơi phạm lỗi nhất.

LUẬT XV: PHẠT ĐỀN


Đội bóng có cầu thủ phạm một trong những lỗi phạt trực tiếp nếu vị trí phạm lỗi trong khi phạt đền của đội mình lúc bóng đang trong cuộc - sẽ bị phạt quả phạt đền.
 
Từ quả phạt đền, bóng được đá trực tiếp vào cầu môn đội phạm lỗi, bàn thắng được công nhận.
 
Khi có quả phạt đền ở phút cuối của mỗi hiệp chính, hiệp phụ, phải bù thêm thời gian để thực hiện xong quả phạt đền.
 

1. Vị trí đặt bóng và cầu thủ:

  • Bóng được đặt tại điểm phạt đền thứ nhất.
  • Cầu thủ đá quả phạt đền phải được thông báo rõ ràng.
  • Thủ môn đội bị phạt:
    • Đứng trên đường cầu môn giữa 2 cột dọc, mặt đối diện với cầu thủ đá phạt cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
  • Các cầu thủ khác:
    • Đứng trong sân, ngoài khu phạt đền.
    • Phía sau điểm phạt đền.
    • Cách xa điểm phạt tối thiểu 5m.

2. Trình tự thực hiện quả phạt:

  • Cầu thủ đá phạt phải đá bóng về phía trước.
  • Không được chạm bóng tiếp lần thứ 2 khi chưa có cầu thủ nào chạm bóng.
  • Bóng vào cuộc sau khi được đá và di chuyển về phía trước.
  • Khi quả phạt đền được thực hiện trong 2 hiệp chính, hiệp phụ, trong thời gian bù thêm để thực hiện xong quả phạt đền hoặc khi thực hiện lại quả  phạt đền.
  • Bàn thắng được công nhận nếu trước khi vượt qua đường cầu môn giữa 2 cột dọc và dưới xà ngang, bóng có chạm các cột dọc, xà ngang hoặc người thủ môn.

3. Những vi phạm và xử phạt:

  • Cầu thủ đội phạm lỗi vi phạm:
    • Thực hiện lại quả phạt nếu bóng không vào cầu môn.
    • Công nhận bàn thắng nếu bóng vào cầu môn.
  • Đồng đội của cầu thủ đá phạt phạm lỗi:
    • Bóng vào cầu môn, đá lại quả phạt.
    • Bóng không vào cầu môn, không đá lại quả phạt.
  • Cầu thủ đá phạt phạm lỗi sau khi bóng được đá vào cuộc:
    • Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp.

LUẬT XVI: ĐÁ BIÊN

  • Khi quả bóng hoàn toàn vượt khỏi đường biên dọc dù ở mặt sân hoặc ở trong không gian, cầu thủ của đội không chạm bóng cuối cùng được đá biên về bất kỳ hướng nào tại vị trí bóng vượt khỏi đường biên dọc.
  • Lúc thực hiện quả đá biên, cầu thủ có thể giẫm một phần chân lên đường biên dọc hoặc đứng hẳn ngoài sân.
  • Bóng phải đặt “chết” trên đường biên dọc và được coi là trong cuộc ngay khi được đá rời chân và di chuyển.
  • Cầu thủ đá biên không được chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm hoặc được đá bởi cầu thủ khác.
  • Các cầu thủ đối phương phải đứng cách bóng tối thiểu 5m.
  • Bàn thắng không được công nhận từ quả đá biên trực tiếp vào cầu môn.
 
Cách xử phạt:
 
  • Nếu đá biên không đúng quy định, quyền đá biên được chuyển cho đội đối phương.
  • Nếu đá biên không đúng vị trí bóng ra biên dọc, quyền đá biên được chuyển cho đội đối phương.
  • Nếu cầu thủ đã đặt bóng vào vị trí mà sau 4 giây không thực hiện quả đá biên, quyền đá biên sẽ được chuyển cho đội đối phương.
  • Nếu cầu thủ đá biên chạm bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm hoặc được đá bởi cầu thủ khác thì sẽ bị phạt quả gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
  • Trường hợp phạm lỗi trong khu phạt đền, quả phạt đền sẽ được đặt trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

LUẬT XVII: QUẢ NÉM PHÁT BÓNG

  • Khi quả bóng hoàn toàn vượt ra khỏi đường biên ngang dù ở mặt sân hay ở trên không, phía ngoài khung cầu môn mà người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội tấn công, thủ môn đội phòng thủ được thực hiện quả ném phát bóng.
  • Thủ môn phải dùng tay đưa vào cuộc từ trong khu phạt đền và bóng được coi là trong cuộc ngay sau khi ra khỏi khu phạt đền.
  • Thủ môn ném phát bóng bằng tay có thể đưa bóng trực tiếp sang sân đối phương.
  • Các cầu thủ đội đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền khi thủ môn ném phát bóng.
 
Cách xử phạt:
 
  • Bón từ quả ném phát bóng hợp lệ trực tiếp vào cầu môn đối phương – bàn thắng không được công nhận.
  • Nếu quả phát bóng của thủ môn chạm hoặc được đá bởi đồng đội hay đối phương trong khu vực phạt đền của thủ môn đó thì phải phát bóng lại.
  • Nếu thủ môn sau khi phát bóng ra ngoài khu vực phạt đền lại chạm bóng lần thứ 2 trước khi một cầu thủ khác chạm hoặc đá, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại chỗ phạm lỗi.
  • Nếu sau khi phát bóng, thủ môn nhận lại quả bóng từ đồng đội chuyển về bằng tay hoặc khống chế bằng chân. Trọng tài cho đối phương hưởng quả phạt gián tiếp. Quả phạt sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

LUẬT XVIII: QUẢ PHẠT GÓC

  • Khi bóng hoàn toàn vượt ra đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt sân hoặc ở trên không mà đội phòng thủ là người chạm cuối cùng - cầu thủ đội tấn công sẽ được hưởng quả phạt góc.
  • Cầu thủ thực hiện quả phạt góc phải đặt bóng trong cung đá phạt góc.
  • Các cầu thủ đội đối phương phải đứng cách bóng 5m (ngang vạch quy định) cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
  • Bàn thắng được công nhận nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội đối phương.
 
Cách xử phạt:
  • Nếu cầu thủ thực hiện quả phạt góc chạm bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm một cầu thủ khác, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại chỗ phạm lỗi.
  • Nếu quả phạt góc không thực hiện đúng quy định, sẽ phải đá lại.
  • Cầu thủ đã đặt bóng vào đúng vị trí, nếu quá 4 giây mà không thực hiện quả phạt góc, trọng tài cho đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại điểm trong cung đá phạt góc.

NHỮNG HƯỚNG DẪN VỀ ĐÁ LUÂN LƯU 6M


Thi đá luân lưu 6m nhằm xác định đội thắng trong những trận đấu loại trực tiếp có kết thúc hoà.
 
Thủ tục tiến hành
 
  1. Trọng tài chọn cầu môn để thi đá luân lưu.
  2. Trọng tài tung đồng tiền, đội được thăm đá quả đầu tiên.
  3. Trọng tài phải ghi chép kết quả qua mỗi lần đá.
  4. Nguyên tắc mỗi đội được đá 5 quả với quy định:
    • Hai đội cử từng cầu thủ đá luân lưu xen kẽ nhau.
    • Đội trưởng phải thông báo với trọng tài danh sách 5 cầu thủ sẽ thi đá, được chọn trong danh sách 12 cầu thủ đã đăng ký với trọng tài trước trận đấu.
    • Khi trận đấu kết thúc, mỗi đội có số cầu thủ hợp lệ đông hơn đối phương, đội trưởng phải thông báo với trọng tài tên và số áo của cầu thủ không thi đá nhằm đảm bảo trước khi đá, hai đội có số lượng cầu thủ bằng nhau.
    • Trước khi hai đội đá đủ 5 quả, một đội ghi được số bàn thắng nhiều hơn số bàn thắng mà đội kia có thể ghi được nếu đá đủ 5 quả, thì trọng tài cho dừng lại.
    • Nếu sau khi đá đủ 5 quả, hai đội có số bàn thắng bằng nhau hoặc không ghi được bàn thắng nào sẽ tiếp tục đá đối xứng từng quả một cho tới khi hai đội có số lượng quả sút phạt bằng nhau mà có đội ghi được nhiều bàn thắng hơn.
    • Những cầu thủ nào chưa đá 5 quả đầu sẽ được đá những quả đối xứng tiếp theo. Sau khi mỗi đội đã đá hết số cầu thủ còn lại, vẫn hoà thì các cầu thủ đá đợt đầu đá tiếp tục nhưng vẫn theo phương thức đá đối xứng từng quả một.
    • Cầu thủ bị truất quyền thi đấu không được tham gia thi đá luân lưu 6m.
    • Trong suốt quá trình thi đá luân lưu, mọi cầu thủ trong sân đều có quyền thay thế thủ môn.
    • Chỉ có trọng tài và cầu thủ hợp lệ của 2 đội bóng ở lại trong sân trong khi đá luân lưu.
    • Trừ cầu thủ đá phạt và thủ môn 2 đội, tất cả cầu thủ phải ở lại trên nửa phần sân đối diện với phần sân đang thi đá. Trọng tài thứ 2 có trách nhiệm quản lý những cầu thủ đó.
    • Thủ môn cùng đội với cầu thủ thực hiện quả phạt phải đứng trong sân và không gây cản trở đến tiến trình thi đá luân lưu.
Trên đây là kiến thức tổng hợp về Luật bóng đá 5 người mới nhất của FIFA năm 2019.  

Bình luận